Loading ...

Đắk Nông với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nổi bật giai đoạn 2011 - 2020

Ngày đăng:04-12-2019 | 09:58:01
Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển KT - XH giai đoạn 2011 - 2020, tỉnh Đắk Nông đã tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn thách thức để vươn lên gặt hái được những thành tựu hết sức quan trọng. Diện mạo Đắk Nông hôm nay đã có nhiều đổi mới; thế và lực cũng ngày càng vững mạnh; tạo nền tảng và tiền đề cần thiết để chuyển sang giai đoạn phát triển nhanh và bền vững, đẩy mạnh CNH - HĐH và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Báo cáo tình hình phát triển KT - XH giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng phát triển phát triển giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của tỉnh Đắk Nông cho thấy bình quân giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng GRDP của tỉnh đạt 8,03%, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 8,18%/9%; bình quân giai đoạn 2011 - 2020 đạt 8,1%. GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 51 triệu đồng. Tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đến năm 2020 chiếm khoảng 58 - 59 % trong GRDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 83% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp và chiếm 15% trong tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh. Tỷ lệ đô thị hóa ước đạt 26%. Số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới gồm 21 xã và 1 huyện. Tốc độ tăng dân số 0,2%/ năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân: 2%/năm; Dân tộc thiểu số giảm trên 5%/năm. Bình quân m2 sàn xây dựng nhà ở tính trên một người dân: 22,4 m2/người. Nếu như năm 2011, số bác sỹ trên một vạn dân đạt 4,9 bác sỹ/vạn dân thì đến năm 2018 tăng lên 7,5 bác sỹ/vạn dân, kế hoạch năm 2020 đạt 8 bác sỹ/vạn dân. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2018 đạt 39,15%. Tỷ lệ sử dụng nước sạch ở đô thị đạt 100% ; sử dụng nước hợp vệ sinh ở nông thôn đạt 88,4%. Tỷ lệ xử lý chất thải y tế đạt 100%. Tỷ lệ xử lý chất thải rắn thông thường đạt 100%.

Trong 16 nhóm chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đề ra, dự kiến có 13 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra (thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 12,1%; có 21 xã đạt chuẩn Nông thôn mới/18 xã, mỗi xã đạt bình quân 15 tiêu chí trở lên; tỷ lệ hộ dân thành thị sử dụng nước sạch; tỷ lệ giảm nghèo; tỷ lệ đô hóa; lao động, việc làm; cấp điện…); có 3 chỉ tiêu có khả năng không đạt cần phải phấn đấu (GRDP bình quân đầu người đạt 51 triệu đồng/54 triệu đồng; tăng trưởng kinh tế đạt 8,18%/9%; tỷ lệ che phủ rừng, dự kiến đến năm 39,3%/40%.

Việc thực hiện 3 đột phá lớn (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển nhanh nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ) đã đạt những kết quả nhất định. Qua triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh phát triển cả về chất lẫn lượng. Chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị được quan tâm đúng mức. Công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển cán bộ được các cấp ủy và lãnh đạo quan tâm chỉ đạo thực hiện đúng quy trình, đảm bảo số lượng, tỷ lệ, cơ cấu, bước đầu đã đáp ứng được nguồn cán bộ để kiện toàn bộ máy cấp ủy, lãnh đạo các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 cũng như dự nguồn cán bộ kế cận cho nhiệm kỳ 2020-2025 và những năm tiếp theo.

Từ địa phương có hạ tầng yếu kém, đến nay hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH của Đắk Nông ngày một hoàn thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong hiện tại và giai đoạn tiếp theo. Hệ thống đô thị cũng có bước phát triển đáng khích lệ, làm thay đổi cảnh quan đô thị, thay đổi nhận thức và nâng cao chất lượng sống của cư dân đô thị, thu hút được các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng đô thị, góp phần đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội và quốc phòng an ninh.

Nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh đạt một số kết quả tích cực. Cơ cấu kinh tế không chỉ chuyển dịch dần theo hướng tiến bộ, tăng dần tỷ trọng trong công nghiệp - dịch vụ, trên các ngành kinh tế đều đạt được các kết quả rõ rệt, thể hiện rõ năng suất được nâng cao; giá trị sản phẩm và cả sản lượng đều tăng, nhiều sản phẩm tạo được thương hiệu và thị trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị xuất nhập khẩu. Với đà phát triển hiện nay, trong giai đoạn tiếp theo kinh tế nội tỉnh sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ với 3 trụ cột chủ yếu của đổi mới mô hình tăng trưởng của tỉnh gồm: Phát triển công nghiệp Alumin và luyện nhôm; Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tạo ra sản phẩm chất lượng và giá trị cao; Phát triển du lịch, đánh thức tiềm năng du lịch mạnh mẽ của địa phương.

Song song đó, công tác phát triển doanh nghiệp, thu hút đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh có những chuyển biến hết sức tích cực. Nếu như thời điểm mới thành lập, Đắk Nông chỉ có hơn 150 doanh nghiệp thì hiện toàn tỉnh có trên 2.242 doanh nghiệp đang hoạt động (trên 4.465 doanh nghiệp đăng ký) với vốn đăng ký trên 25.000 tỷ đồng. Đến nay tỉnh đã cấp chủ trương đầu tư cho 277 dự án ngoài ngân sách với tổng vốn đăng ký đầu tư trên 54.247 tỷ đồng. Việc triển khai các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao Chỉ số PCI đã được tỉnh triển khai tích cực, tuy nhiên mức độ cải thiện chậm, chưa đạt kế hoạch đề ra.

Công tác chỉ đạo, điều hành, sử dụng các nguồn lực phát triển KT - XH như: vốn đầu tư công, thu - chi ngân sách, quản lý đất đai, tài sản công... đảm bảo tuân thủ pháp luật, tiết kiệm, hiệu quả. Các chích sách an sinh xã hội như: chăm lo cho các đối tượng chính sách; hỗ trợ hộ nghèo, đồng bào DTTS; bảo trợ xã hội; giải quyết việc làm; chăm sóc sức khỏe nhân dân; cải thiện chất lượng giáo dục đào tạo... luôn được tỉnh quan tâm thực hiện góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Công tác cải cách hành chính đã đạt một số kết quả nhất định, môi trường đầu tư, kinh doanh ngày được cải thiện; tình hình an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội của tỉnh được đảm bảo.

Tuy nhiên xét trên mặt bằng chung, những thành tựu đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của Đắk Nông. Quy mô nền kinh tế tỉnh còn nhỏ, phát triển tự phát, chất lượng chưa cao; hạ tầng cơ sở thiết yếu còn thấp, thiếu đồng bộ, nhất là hạ tầng kỹ thuật giao thông, đô thị; quy mô, hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; thực hiện cải cách hành chính vẫn còn chậm; công tác quản lý, khai thác, bảo vệ rừng hiệu quả thấp; một số vấn đề về văn hoá, xã hội chưa được giải quyết tốt...

Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do các nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan: xuất phát điểm về KT - XH của tỉnh thấp; kết cấu hạ tầng KT - XH yếu kém; nền kinh tế còn mang nặng tính thuần nông; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành ở một số cấp, ngành, địa phương chưa chủ động vận dụng và đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, sát thực, phù hợp với nguồn lực; một số cấp ủy, chính quyền có lúc chưa thật sự năng động, quyết liệt, chậm cụ thể hóa để đưa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT - XH ở một số ngành, địa phương còn thiếu đồng bộ, chưa phát huy hết tính sáng tạo nên hiệu quả chưa cao....

Từ thực tiễn phát triển của Đắk Nông và kết quả 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển KT - XH giai đoạn 2011 - 2020, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm:

Thứ nhất, nâng cao tinh thần đoàn kết, giữ vững kỷ cương, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phát huy tinh thần sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo điều hành. Xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm đáp ứng yêu cầu mới.

Thứ hai, vận dụng sáng tạo định hướng của Trung ương vào tình hình cụ thể của địa phương; tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của tỉnh; tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của Trung ương cùng với phát huy nội lực để tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của địa phương.

Thứ ba, việc ban hành các chủ trương, chính sách phải dựa vào nguồn lực và huy động tốt nhất các nguồn lực để thực hiện, bám sát định hướng quy hoạch và các mục tiêu đã đề ra, từ đó lựa chọn các vấn đề có tính đột phá để ban hành. Việc tổ chức phải thực hiện đồng bộ, toàn diện, có phân công trách nhiệm cụ thể.

Thứ tư, coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tập trung giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, công tác giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân; thực hiện tốt chính sách với người có công, gia đình chính sách, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS.

Thứ năm, ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; đoàn kết nội bộ trong cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở làm nòng cốt cho đoàn kết toàn dân và đồng thuận xã hội để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình phát triển KT - XH, giữ vững quốc phòng - an ninh.

Ảnh Trọng Ngọc, bài Nguyễn Châu

 

(Nguồn:)
Viết phản hồi
Mã xác nhận:
Thông tin doanh nghiệp