Loading ...

Nâng cao vị thế VND

Ngày đăng:02-03-2016 | 02:30:23
“Khi thị trường tài chính tiền tệ thực sự phát triển, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ xem xét cân nhắc có các biện pháp hạn chế huy động ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng”, đó là lời chia sẻ của Phó thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng với báo giới về định hướng chính sách tiền tệ trong năm 2016. Việc duy trì chế độ song tệ - tiền đồng (VND) và đô la Mỹ (USD) - như hiện nay đã và đang gây ra nhiều hệ lụy.

Nâng cao vị thế VND

Hồ Lê

Việc duy trì chế độ song tệ - tiền đồng (VND) và đô la Mỹ (USD) - như hiện nay đã và đang gây ra nhiều hệ lụy. Ảnh minh họa TL-TBKTSG

- “Khi thị trường tài chính tiền tệ thực sự phát triển, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ xem xét cân nhắc có các biện pháp hạn chế huy động ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng”, đó là lời chia sẻ của Phó thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng với báo giới về định hướng chính sách tiền tệ trong năm 2016. Việc duy trì chế độ song tệ - tiền đồng (VND) và đô la Mỹ (USD) - như hiện nay đã và đang gây ra nhiều hệ lụy.

Kiếm lợi từ USD

Nạn đầu cơ tỷ giá hoặc chuyển dịch tài sản từ VND sang USD mỗi khi thị trường ngoại hối căng thẳng là vấn đề nan giải của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm qua. Điều này thường diễn ra trong giai đoạn cuối năm, thời điểm nhu cầu ngoại tệ thường lên cao để đáp ứng hoạt động thanh toán quốc tế và trả nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp.

Dựa vào sự căng thẳng tỷ giá có tính chu kỳ này, nhiều người tăng cường nắm giữ USD với kỳ vọng lướt sóng kiếm lời, vô hình trung càng gây áp lực lên tỷ giá và hệ quả là lại càng khuyến khích hoạt động đầu cơ trên thị trường ngoại hối. Vòng tròn luẩn quẩn này cứ thế tiếp diễn đến khi nào VND bị phá giá thật sự hoặc NHNN có chính sách kịp thời dập tắt kỳ vọng của giới đầu tư lẫn đầu cơ.

Đối với giới đầu tư quốc tế, hoạt động carry trade (kinh doanh chênh lệch lãi suất bằng cách vay một đồng tiền có lãi suất thấp chuyển sang một đồng tiền có lãi suất cao hơn) rất phổ biến. Kể từ khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) bơm tiền rẻ vào nền kinh tế thông qua các chính sách nới lỏng định lượng (các gói QE) và duy trì lãi suất ở mức zero, lượng cung tiền rẻ này đã đổ đi khắp nơi trên thế giới để tìm kiếm những thị trường có suất sinh lời cao hơn mà Việt Nam là một trong số đó. Khó có thể đo đếm được lượng USD đã chảy vào Việt Nam, chuyển sang VND rồi gửi tại ngân hàng để hưởng mức lãi suất cao hơn. Tuy nhiên, bữa tiệc nào rồi cũng tàn, nay Fed bắt đầu tăng lãi suất trở lại, sớm muộn gì dòng tiền đầu tư từ hoạt động carry trade cũng sẽ hồi hương, khi đó nó buộc phải chuyển ngược trở lại thành USD trước khi trở về thị trường Mỹ.

Trớ trêu thay việc đồng nội tệ bị phá giá có thể mang lại lợi nhuận nhanh chóng cho các tổ chức, cá nhân đầu cơ, hay những người tích lũy đồng USD mà thường là những người giàu, thì hệ quả của nó lại gây thiệt hại đến lợi ích của những người nghèo, những người làm công ăn lương cố định.

Các doanh nghiệp trong nước cũng đủ nhanh nhạy để tham gia kiếm lời từ chênh lệch lãi suất giữa VND và USD. Hiện doanh nghiệp xuất khẩu nào có nguồn thu từ ngoại tệ thì sẽ được vay USD ở ngân hàng thương mại. Nhiều doanh nghiệp dù đảm bảo được nguồn vốn nhưng vẫn vay USD. Nhiều doanh nghiệp có nhu cầu cần tài trợ USD thật sự nhưng chưa đến hạn thanh toán cũng tìm cách vay trước USD. Các nguồn USD vay được với lãi suất ưu đãi này sau đó được chuyển sang VND rồi đem gửi ngược lại các ngân hàng để hưởng chênh lệch lãi suất giữa VND và USD. Khi đến hạn, các doanh nghiệp này ắt phải mua USD để trả nợ vay ngân hàng. Càng nhiều doanh nghiệp kiếm lời từ hoạt động này và nếu nhu cầu mua USD để trả nợ diễn ra cùng thời điểm, dĩ nhiên sẽ gây nên những áp lực lớn cho thị trường ngoại hối.

Các ngân hàng thương mại cũng không đứng ngoài cuộc chơi này. Nhiều năm qua các ngân hàng đã chuyển nguồn vốn huy động USD với giá rẻ bán sang VND để cho vay với lãi suất cao hơn, bất chấp những rủi ro tỷ giá. Với mức chênh lệch lãi suất khá cao, có thể lên đến 8-10% thì những ngân hàng có nguồn thanh khoản USD dồi dào khó có thể cưỡng lại. Chính vì thế mà NHNN đã phải điều chỉnh giảm giới hạn trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng từ 30% xuống 20% vốn tự có, nhằm hạn chế khả năng đầu cơ, chuyển đổi vốn trong hệ thống gây bất lợi tới tỷ giá. Tuy nhiên, tỷ lệ 20% cũng đủ để các ngân hàng kiếm lời đáng kể từ hoạt động chuyển đổi vốn này. Nhưng rồi khi nhận thấy tỷ giá bắt đầu căng thẳng, các ngân hàng sẽ rời bỏ cuộc chơi, nhanh chóng mua lại USD để tránh bị thiệt hại từ rủi ro tỷ giá cận kề, thậm chí còn lướt sóng để kiếm lời thêm từ hoạt động mua bán ngoại tệ.

Và những hệ lụy tất yếu

Tất cả những hoạt động kể trên đều sẽ gây căng thẳng lên thị trường ngoại hối, kích thích nhu cầu đầu cơ USD, tạo ra áp lực phải phá giá đồng nội tệ. Chính phủ lúc này sẽ phải dùng ngoại tệ dự trữ để mua nội tệ nhằm duy trì tỷ giá hối đoái, hoặc phải quyết định phá giá tiền tệ. Một khi đồng nội tệ bị phá giá, các hàng hóa nhập khẩu sẽ mắc hơn, từ đó lại tiếp tục gây áp lực lên chỉ số giá cả, lạm phát có nguy cơ tăng cao, tác động trực tiếp đến lợi ích của người tiêu dùng và đời sống của người dân.

Trước tình trạng lạm phát tăng, các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất lên cao hơn để đủ hấp dẫn người gửi tiền, từ đó làm tăng chi phí tài chính của các doanh nghiệp vay vốn, giá sản phẩm đến tay người tiêu dùng lúc này cũng cao hơn. Trớ trêu thay, việc đồng nội tệ bị phá giá có thể mang lại lợi nhuận nhanh chóng cho các tổ chức, cá nhân đầu cơ, hay những người tích lũy đồng USD mà thường là những người giàu, thì hệ quả của nó lại gây thiệt hại đến lợi ích của những người nghèo, những người làm công ăn lương cố định.

Đáng nguy hơn là khi kỳ vọng đầu cơ kiếm lời từ sự tăng giá của đồng ngoại tệ cứ được thỏa mãn, thị trường sẽ hình thành thói quen phải được đáp ứng và khi đó tâm lý đám đông sẽ chạy theo thị trường mỗi khi tỷ giá căng thẳng. Nếu một đồng nội tệ bị mất giá quá lớn hoặc quá nhiều lần, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư. Không nhà đầu tư nào muốn rót tiền vào những thị trường mà giá trị đồng nội tệ không ổn định.

Chưa dừng lại ở đó, những dòng vốn đầu tư đã rót vào trước đây có thể tìm đường tháo chạy trước các rủi ro tỷ giá, mà hình ảnh của Trung Quốc gần đây là một minh chứng, từ đó sẽ ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người dân và nguồn thu thuế của Nhà nước. Việc phá giá đồng tiền cũng đẩy nợ nước ngoài của Chính phủ và các doanh nghiệp tính theo đồng nội tệ tăng lên, tác động tiêu cực tới ngân sách nhà nước và chi phí trả nợ của doanh nghiệp

Nâng vị thế tiền đồng

Để giải quyết tình trạng đô la hóa nền kinh tế và ổn định thị trường ngoại hối, nhiều năm qua Chính phủ và NHNN đã ban hành hàng loạt chính sách như: quy định trần lãi suất huy động USD và giảm dần mức trần lãi suất về 0%; thu hẹp đối tượng vay ngoại tệ; kết hối doanh nghiệp nhà nước; từng bước kiểm soát chặt chẽ hơn đối với nhu cầu vốn vay bằng ngoại tệ; ban hành thông tư khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm rủi ro tỷ giá thông qua sử dụng công cụ phái sinh; tăng dự trữ bắt buộc ngoại tệ và giảm giới hạn trạng thái ngoại hối đối với ngân hàng; thu hẹp thị trường ngoại tệ tự do, hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam và gần đây nhất là áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm theo hướng linh hoạt và sát với thị trường hơn.

Với mục tiêu chuyển dần quan hệ vay và gửi ngoại tệ sang quan hệ mua - bán, nâng cao vị thế của đồng Việt Nam, sắp tới NHNN có thể dừng cho phép thanh toán hay gửi tiền bằng ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, nhu cầu sở hữu ngoại tệ như là một loại tài sản cần tiếp tục được cho phép, và khi đó việc gửi USD vào ngân hàng sẽ được thay bằng các hình thức giữ hộ tài sản giống như đã từng thực hiện với vàng.

Trong khi đó, hoạt động cho vay ngoại tệ có thể dần được thay thế bởi các hợp đồng mua bán giao ngay và kỳ hạn. Trong một môi trường mà việc nắm giữ USD trên tài khoản sẽ chẳng được hưởng lãi, biên độ dao động của đồng nội tệ quá khiêm tốn so với mức lãi suất tiền gửi của đồng nội tệ và các sản phẩm mua bán ngoại tệ phái sinh được cung cấp nhanh chóng và tiện lợi, thì các doanh nghiệp không có động lực nào để giữ USD trên tài khoản, mà sẽ chuyển hết sang tiền đồng.

Dù là gì đi nữa, điều quan trọng nhất là phải giữ được niềm tin vào giá trị của tiền đồng, kiểm soát được kỳ vọng của giới đầu tư thông qua các giải pháp và chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn, minh bạch chính sách tài khóa. Nếu không làm được như vậy, bất kỳ quyết sách nào ban hành cũng khó có thể ngăn cản người dân từ chối việc nắm giữ đồng nội tệ và nhanh chóng dịch chuyển sang các hàng hóa hay tài sản khác đáng tin hơn, mà không nhất thiết phải là USD hay bất kỳ ngoại tệ nào khác.

Viết phản hồi
Mã xác nhận:
Thông tin doanh nghiệp